MỞ RỘNG ĐÔ THỊ

Các bản đồ được giới thiệu ở đây là chìa khóa để hiểu rõ các giai đoạn đô thị hóa ở TP.HCM, từ các bản đồ đầu tiên của Sài Gòn và Chợ Lớn trong thời Pháp đến Bản đồ định hướng phát triển không gian của TP.HCM đến năm 2025. Các bản đồ này cho chúng ta thấy được sự phát triển không gian của Thành phố và triển vọng phát triển trong tương lai. Chúng tôi trân trọng cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu đô thị và Phát triển (CEFURDS) và Viện Á Đông đã cho phép Triển lãm sử dụng kho ảnh của mình.

Bản đồ 1862

2.15-carte 1862
© CEFURDS
Bản đồ 2.1: Bản đồ Sài Gòn và các vùng phụ cận năm 1862

Có tên gọi là Plan de Saigon et de ses environs 1862 (Bản đồ Sài Gòn và vùng phụ cận 1862) (xem bản đồ 2.1) được một Trung sĩ Hải Quân đánh bộ của Pháp lập vào ngày 2/1/1862. Bản đồ này do chính Coffyn xem xét và thẩm định. Coffyn là tác giả của bản Quy hoạch Dự án thành phố 500.000 người tại Sài Gòn (Projet de Ville de 500.000 âmes à Saigon. Khi ấy Coffyn là Đại tá Chỉ huy trưởng lực lượng công binh viễn chinh. Bản đồ cho thấy hình ảnh của hai khu đô thị Sài Gòn và Chợ Lớn vào thời điểm trước khi quy hoạch của Coffyn được thực hiện.


Bản đồ thể hiện những nét chính về các khu cư trú và hệ thống sông nước của hai khu thị tứ Sài Gòn (trước kia được gọi là Bến Nghé) và Chợ Lớn (trên bản đồ ghi là Thành phố của người Hoa). Đặc biệt, khu vực Chợ Lớn được tô màu hồng đậm nhạt khác nhau ở hai bên con rạch Lò Gốm, đậm ở phía Bắc rạch còn nhạt ở phía Nam rạch, thể hiện mật độ cư trú dọc theo con rạch này.

Yếu tố sông nước của Sài Gòn Chợ Lớn được thể hiện rất rõ ràng. Sài Gòn Chợ Lớn vào buổi ban đầu của thời kỳ thuộc địa có nhiều đầm, hồ, rạch, cho thấy Bến Nghé vốn là một đô thị sông nước với hệ thống kênh rạch đan xen nhau ở cả Sài Gòn lẫn Chợ Lớn .


Bao quanh Bến Nghé là một mạng lưới đường nước thiên nhiên gồm rạch Thị Nghè ở phía Bắc, sông Sài Gòn ở phía Đông, rạch Bến Nghé ở phía Nam, rạch Lò Gốm phía Nam đô thị Chợ Lớn và một số con kênh rạch nhỏ khác. Rạch Thị Nghè chảy ngoằn ngoèo ở phía Bắc đô thị Bến Nghé, từ Tây sang Đông, đổ ra sông Sài Gòn. Đoạn ở nguồn được gọi là Nhiêu Lộc. Rạch làm thành ranh giới phía Bắc cho đô thị Bến Nghé.


Rạch Bến Nghé chảy từ vàm Bến Nghé, nơi gặp rạch Lò Gốm chảy về hướng Tây và đổ ra sông Sài Gòn làm thành ranh giới thiên nhiên phía Nam cho khu đô thị Bến Nghé. Vì là một con rạch lớn, nên rạch Bến Nghé có nhiều rạch nhỏ nằm ở tả ngạn và hữu ngạn như rạch Cầu Kho, rạch Ong Nhỏ và rạch Ong Lớn .


Từ ngã ba rạch Thị Nghè dọc sông Sài Gòn đến rạch Bến Nghé là một hệ thống kênh rạch quan trọng của khu vực ven sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé và đây chính là một phần đường giao thông thủy của thành Quy trước đây nối với sông Sài Gòn, với rạch Bến Nghé.


Hệ thống kênh rạch nội đô này sau này trở thành những đại lộ của trung tâm Sài Gòn – TP.HCM như đại lộ Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Hàm Nghi, Pasteur, Nam Kỳ Khởi Ngĩa (đoạn gần rạch Bến Nghé).

Bản đồ địa hình 1882.

Plan topographique 20è Arrondissement et ses environs (Bản đồ địa hình hạt 20 và các vùng phụ cận) được xuất bản dưới sự điều khiển của ông Boilloux, S. Inspecteur des Domaines (Phó Thanh tra Sở hữu đất đai), Giám đốc Sở Địa chính, theo lệnh của Thống đốc Le Myre de Vilers. Bản đồ được vẽ ở tỉ lệ 1:20.000 với nhiều mảnh, bao gồm cả hai khu đô thị Bến Nghé, Chợ Lớn và các vùng phụ cận. Bản đồ cung cấp nhiều thông tin về hệ thống đường xá, sông rạch, vạch các ranh giới hành chính, đưa ra tên các đơn vị hành chính và địa danh, vị trí các công trình kiến trúc quan trọng như cầu, nhà thờ, chùa, đình… và nhà cửa ở khu vực ngoại thành…

2.18 - PLAN CADASTRAL VILLE DE SG 1882
© CEFURDS

Bản đồ 1923

2.13-1923
© CEFURDS

Plan de Saigon – Cholon 1923 (Bản đồ Sài Gòn – Chợ Lớn 1923) được Nha Địa dư Đông Dương (Service Géographie de l’Indochine) vẽ dựa theo ảnh của Nha Hàng không (Service Aéronautique), khắc in và xuất bản vào tháng 12/1923. Đây là một bản đồ có tỉ lệ 1:10.000 (bản đồ cũng kèm theo một thước tỷ lệ để giúp việc tính khoảng cách các địa điểm được dễ dàng), trình bày chủ yếu là khu đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn và vùng phụ cận liền kề. Trên bản đồ có một hệ thống lưới kinh tuyến và vĩ tuyến cung cấp tọa độ địa lý. Bản đồ cung cấp nhiều loại thông tin như địa hình (các đường đồng cao độ với khoảng cách 1m, hệ thống sông rạch), hệ thống đường xá, cư trú, các ranh giới hành chính, địa danh (tên đường, sông rạch, đơn vị hành chính…). Bản đồ còn có 2 bảng ghi chú nhiều tên công trình kiến trúc (cơ quan công quyền, doanh trại quân đội, nhà thờ, nhà thương, chợ búa…) theo vị trí được ghi thành số trên bản đồ. Ví dụ như Kho bạc (số 44, 45), Trụ sở hải quan (85), Pháp đình (78), Khám lớn (72), Bưu điện (35), tòa Đốc lý Sài Gòn (số 69). Hệ thống đường sắt xuất hiện (Chemin de fer de l’Indochine). Về đường thủy, thành phố có thêm hai con kênh lớn là kênh Tẽ (Canal de Dérivation) được đào vào năm 1905 và kênh Đôi (Canal de Doublement) (1912).

Bản đồ năm 1958 .

2.16-Cef-M91B Do thanh Sai Gon  (Capital Saigon) 1958, Part 1_2
2.17-Cef-M91C Do thanh Saigon (Capital Saigon) 1958, Part 2_2
© CEFURDS

Bản đồ có hai mảnh, mang tên Đô Thành Sài Gòn, do Nha Địa dư Quốc gia thiết lập và ấn hành lần thứ nhất vào năm 1958. Bản đồ có tỉ lệ là 1:10.000 và được in làm hai mảnh, được thiết lập trên hệ thống chiếu UTM, điều chỉnh năm 1956, dựa trên không ảnh do Viện Địa dư Pháp chụp năm 1953 và được bổ túc trắc họa trong Đô thành vào năm 1957. Như thế, bản đồ này tuy được xuất bản vào năm 1958, nhưng các thông tin là của năm 1953. Các điều chỉnh sau năm 1953 chỉ thuộc lĩnh vực trắc họa và hệ thống tọa độ qui chiếu, địa danh, hành chính. Bản đồ thể hiện chủ yếu khu vực đô thị Sài Gòn và Chợ Lớn, về phía Bắc đến Phú Nhuận và kênh Nhiêu Lộc; về phía Nam đến nơi tiếp giáp của kênh Đôi và kênh Lò Gốm, rạch Bà Phò; phía Đông đến Thủ Thiêm, cửa kênh Tẽ đổ vào sông Sài Gòn; phía Tây đến Rạch Cát, An Lạc, Tân Hòa Đông.

Bản đồ chú trọng thể hiện hệ thống giao thông (đường tráng nhựa, đường cán đá, đường đất, đường mòn), xây dựng (nhà gạch, nhà gỗ, nhà lá), những thông tin về địa hình như sông rạch, về thảm thực vật (vườn cao su, lùm bụi, lau sậy, ruộng lúa, đồng lầy). Ngoài ra còn có những thông tin về các địa danh, các trụ sở hành chính…

Bản đồ 1965

2.19-Sai Gon 1965
© CEFURDS

Bản đồ 1965 gồm hai tờ, một tờ là bản đồ Nhà Bè (số hiệu 6330-III-ĐB) và một tờ là bản đồ Sài Gòn (số hiệu 6330-IV-ĐN) có tỉ lệ 1:25.000, thuộc Serie L8015, được thực hiện vào năm 1966-1967 dựa trên không ảnh chụp năm 1965 và được Phân cục Địa dư Đà Lạt ấn hành lần thứ nhất vào tháng 11/1968.


Các bản đồ này trình bày vùng đất từ vĩ độ 10037’30” đến 10052’ B và từ kinh độ 1060 37’30” đến 1060 45’ Đ, tức bao gồm khu vực về phía Nam đến xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc (thuộc tỉnh Long An ngày nay), phía Bắc đến xã Trung Mỹ Tây, xã An Phú Đông (quận 12), phía Tây đến xã Tân Sơn Nhì (quận Tân Phú), bến phà Phú Định (quận 8) ngày nay, phía Đông bao gồm một phần bán đảo Thanh Đa (quận Bình Thạnh).

Đây là các bản đồ địa hình, có hệ thống kẻ ô theo tọa độ UTM và đánh dấu các kinh độ và vĩ độ địa lý trên đường khung bản đồ. Bản đồ cung cấp các thông tin về địa hình (cao độ, sông ngòi, kênh rạch, ao hồ…), đường xá, cư trú, thảm thực vật (rừng, đồn điền, ruộng lúa, đầm lầy…) cũng như các thông tin về cư trú (nhà cửa, thôn thị, làng mạc, chùa, nhà thờ…) các địa danh, ranh giới hành chính… Bản đồ có kèm bảng chú thích các ký hiệu sử dụng, thông tin về kỹ thuật trắc họa bản đồ. Tỉ lệ của bản đồ được thể hiện bằng số và bằng thước tỉ lệ.

Bản đồ thành phố Sài Gòn. Năm: 1799

2.14
© Institut d’Asie Orientale
Tác giả: M. Dayot.

Đây là một trong những bản đồ xưa nhất của Sài Gòn. Bản đồ này thể hiện thành Gia Định, còn gọi là thành Bát Quái, được xây dựng vào năm 1790 dưới sự giám sát thi công của Victor Olivier de Puymanel, một trong những sĩ quan Pháp được Giám mục Pigneau de Behaine (Giám mục Bá Đa Lộc) tuyển chọn tham gia lực lượng giúp đỡ Nguyễn Ánh. Thành Gia Định được thiết kế theo kiến trúc kiểu “Vauban”. Các chức năng chính của thành được xác định bằng các ký tự A, B… như trên bản đồ. Ta thấy các khu dân cư phân bổ ở 4 bên của tòa thành. Các khu dân cư ở hai bên phía Đông Nam và Đông Bắc của tòa thành lan rộng liền mạch đến sông Sài Gòn và rạch Thị Nghè. Thành này đã bị phá bỏ vào năm 1835 theo lệnh của vua Minh Mạng sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi. Tuy nhiên, do vị trí chiến lược của địa điểm này, nên Vua Minh Mạng đã ra lệnh xây thành mới nhỏ hơn cũng tại vị trí này vào năm 1836. Thành mới này được gọi là ”thành Phụng” hay “thành Phượng”, hay “thành Gia Định”. Thành Phụng đã bị phá hủy khi quân đội Pháp chiếm Sài Gòn năm 1859.

Ta cũng thấy Chợ Lớn nằm ở góc phía Tây – Nam trên bản đồ này. Chợ Lớn được hình thành dọc theo một con rạch, được người Pháp đặt tên là l’ ”arroyo chinois” (kênh Tàu Hủ-Bến Nghé) , là tuyến giao thông huyết mạch nối Chợ Lớn với Sài Gòn. Từ Chợ Lớn dường như xuất hiện tương đối muộn và có thể đã được sử dụng để đặt tên cho khu vực này vào năm 1801, khi Tướng Lê Văn Duyệt đến nhậm chức Tổng trấn Gia Định .

Bản đồ thành phố Sài Gòn. Năm: 1860.

Nhà xuất bản: Bản đồ được trích từ tạp chí Tour du Monde (1861).

Trên bản đồ này, trục Bắc-Nam đã được dịch chuyển khoảng 90° về phía bên phải.


Bản đồ này lấy lại một phần bản đồ do Ông Dayot vẽ năm 1799. Bản đồ năm 1799 cũng được vẽ trên cơ sở bản đồ do kỹ sư Brown vẽ năm 1795. Bản đồ này chính xác hơn các bản đồ trước đó và chỉ rõ loại cây gì được trồng xung quanh Sài Gòn và Chợ Lớn. Ta cũng nhận thấy hai đồn bảo vệ cửa ngõ ra vào thành phố ở hai bên sông Sài Gòn. Thị trấn Chợ Lớn được thể hiện rõ trên bản đồ này và được gọi là “Khu vực hỗn hợp của người Hoa”.

2.1
© Institut d’Asie Orientale

Bản đồ Sài Gòn. Năm: 1893.

2.18 - PLAN CADASTRAL VILLE DE SG 1882
© Institut d’Asie Orientale.
Tác giả: L. Thuillier Nhà xuất bản: Bản đồ được trích từ tạp chí Tour du Monde (1893).

Trên bản đồ này, trục Bắc-Nam đã được dịch chuyển khoảng 90° về phía bên phải.


Bản đồ này thể hiện tình hình của thành phố tại thời điểm 30 năm sau khi có sự hiện diện của Pháp. Ta thấy thành phố đã mở rộng đáng kể về phía Đông Bắc và phía Tây Nam (dọc theo kênh Tàu Hủ – Bến Nghé). Hầu hết các yếu tố đặc trưng của thành phố thuộc địa đã hình thành: các tuyến đường trục chính như đại lộ Charner (đường Nguyễn Huệ hiện nay) hay đại lộ Norodom (đường Lê Duẩn), nhà ga đường sắt với tuyến xe điện đi Chợ Lớn và tàu hỏa đi Mỹ Tho.

Công viên trong Dinh Thống đốc Nam Kỳ và Vườn Bách thảo (Thảo cầm viên Sài Gòn ngày nay) là hai không gian xanh lớn của thành phố. Các tòa nhà của hãng tàu Messageries maritimes, nằm ở khu vực giao nhau giữa kênh Tàu Hủ – Bến Nghé và sông Sài Gòn, đánh dấu sự phát triển thương mại gắn với giao thông đường thủy của Sài Gòn. Ta cũng nhận thấy các doanh trại quân đội và bãi tập trận được xây dựng trên nền thành Gia Định bị phá hủy vào năm 1859.

Bản đồ thành phố Sài Gòn (Nam Kỳ). Năm: 1900.

Nhà xuất bản: John Bartholomew & Co.

Trên bản đồ này, trục Bắc-Nam đã được dịch chuyển khoảng 90° về phía bên phải.


Đây là một bản đồ rất chính xác và ta có thể thấy nhiều chi tiết về đường phố và các tòa nhà. Khi so sánh bản đồ này với bản đồ của L.Thuillier vẽ năm 1893, ta thấy thành phố không mở rộng nhiều hơn. Tuyến xe điện trước kia kết thúc tại vòng xoay Primauguet (Công trường Mê Linh), đã được kéo dài đến Đa Kao theo hướng đi Gò Vấp.

2.3
© Institut d’Asie Orientale.

Bản đồ Sài Gòn và Chợ Lớn. Năm: 1923.

Nhà xuất bản: In lại từ bản đồ trong Thư viện Quốc gia Pháp.

Đây là một bản đồ rất chính xác về thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn. Mặc dù được kết nối với nhau bằng mạng lưới đường bộ dày đặc hơn, nhưng Sài Gòn và Chợ Lớn vẫn còn xa cách nhau và được ngăn cách bằng cánh đồng lúa rộng lớn và cánh đồng mả. Tuy nhiên, ta thấy khu vực phía bắc Sài Gòn (toàn bộ bờ nam của rạch Thị Nghè) đã được đô thị hóa. Ta cũng nhận thấy vẫn còn dấu vết của thành Gia Định gần vườn bách thảo (Thảo cầm viên). Thành phố Chợ Lớn cũng đã được mở rộng hơn và mang dáng dấp của Quận 5 ngày nay.

2.4
© Institut d’Asie Orientale.

Bản đồ Sài Gòn. Năm: 1947.

Nhà xuất bản: Cơ quan địa lý Đông Dương.

Bản đồ thể hiện rất rõ sự phát triển đô thị của Sài Gòn vào năm 1947. Sài Gòn và Chợ Lớn vẫn còn tách rời nhau, mặc dù vào giai đoạn này mạng lưới đô thị đã cho thấy có sự liên tục từ Sài Gòn đến Chợ Lớn dọc theo kênh Tàu Hủ – Bến Nghé. Trái lại, về phía bắc, mặc dù mạng lưới đường giao thông tiếp cận hai thành phố đã phát triển, nhưng vẫn còn nhiều khu vực chưa có công trình xây dựng và vẫn còn nhiều đầm lầy. Bản đồ này cho thấy rõ ba không gian xanh lớn ở Sài Gòn thời bấy giờ: vườn ông Thượng (Công viên Maurice Long, nay là công viên Tao Đàn), công viên xung quanh Dinh Thống đốc Nam Kỳ và vườn bách thảo (nay là Thảo cầm viên).

2.5
© Institut d’Asie Orientale.

Bản đồ đô thành Sài Gòn. Năm: 1964.

2.7
© Institut d’Asie Orientale.
Tác giả: Direction of the Engineer, USARPAC, U.S. Army Map Service, Far East. Nhà xuất bản: Army Map Service, Corps of Engineers.

Bản đồ này rất chi tiết và cho thấy sự phát triển đô thị lan tỏa của Sài Gòn trong thập niên 1960. Nó thể hiện rõ sự gắn kết đô thị giữa Sài Gòn và Chợ Lớn trong thế kỷ XX. Thật vậy, ngay từ năm 1931, Vùng Sài Gòn – Chợ Lớn đã được xác lập, thuộc thẩm quyền trực tiếp của Thống đốc Nam Kỳ. Thống đốc bổ nhiệm Vùng trưởng để quản lý Vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Tháng 12 năm 1941, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn sáp nhập vào nhau và tạo thành một đô thị duy nhất. Năm 1956, đô thị này mang một tên duy nhất là Sài Gòn.

Các quận chưa xuất hiện, nhưng ranh giới ranh giới hành chính của thành phố (nét chấm chấm) đã định hình rõ ràng. Đây là bản đồ quân sự, nên nó rất chính xác và cung cấp thông tin chi tiết về nhà ở và hệ thống đường giao thông trong thành phố. Ta có thể phân biệt rõ ràng giữa các khu dân cư dày đặc (thể hiện bằng màu xám) và những nơi có các công trình xây dựng còn thưa thớt, tương ứng với khu vực thành phố thời kỳ Pháp thuộc. Ta cũng thấy có các khu vực trồng cao su nằm giữa Chợ Lớn và sân bay Tân Sơn Nhất. Một trong những đặc điểm chính của bản đồ này là thể hiện nổi bật (màu đỏ) các tuyến đường chính ra, vào và băng ngang thành phố. Điều này thể hiện mối quan tâm chiến lược của các tác giả.

Bản đồ đô thành Sài Gòn . Năm: 1966.

Nhà xuất bản: Khai Trí.

Bản đồ màu rất thú vị (đặc trưng của ngành in ấn ở Sài Gòn trong những năm 1960) cho phép ta nhìn thấy rõ 8 quận của Sài Gòn. Ta thấy Quận 1 và Quận 2 trên bản đồ này tương ứng với Quận 1 ngày nay. Quận 5 và Quận 6 cũng tương ứng với một phần của Quận 10 và Quận 11 trong tương lai. Tương tự như vậy, Quận 3 cũng bao gồm một phần của Quận 10 trong tương lai. Các Quận 4 và 8 vẫn không thay đổi (tuy nhiên Quận 8 đã được mở rộng hơn về phía Quận 7).

Bản đồ này cũng thể hiện rõ sông Sài Gòn và hệ thống kênh, rạch. Tuy nhiên, vì đây là bản đồ tập trung chủ yếu vào hệ thống đường phố, nên nó không cho phép xác định được các tòa nhà quan trọng nhất của thành phố.

2.6
© Institut d’Asie Orientale.

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 1988.

Nhà xuất bản: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh.

Bản đồ này, sau khi đất nước thống nhất, thể hiện những thay đổi nhỏ so với bản đồ năm 1975. Ta thấy Quận 2 đã được nhập vào Quận 1 và Quận 7 được nhập vào Quận 8. Quận 6 cũng được mở rộng đáng kể về phía Tây của thành phố. Ta cũng nhận thấy sự xuất hiện của một số quận mới mà trước đây không có trong thành phố: Gò Vấp, Bình Thạnh, Phú Nhuận và Tân Bình bao gồm cả sân bay Tân Sơn Nhất.

2.9
© Institut d’Asie Orientale.

Thành phố Hồ Chí Minh. Bản đồ dịch vụ và du lịch – Năm 1992.

Đây là bản đồ dành cho người Hoa và lấy lại các thông tin trong bản đồ được xuất bản vào năm 1988. Nó được xuất bản cùng năm tái lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Là một bản đồ du lịch, nó thể hiện các địa điểm mốc cần thiết dành cho du khách.

2.10
© Institut d’Asie Orientale.

Bản đồ Đô Thành Sài Gòn và vùng phụ cận – Năm: 1973 -1975.

Bản đồ này đầy màu sắc (yếu tố đặc trưng của các bản đồ ở Việt Nam trong thời kỳ này) thể hiện rõ sự thay đổi các quận của Sài Gòn từ thập niên 1960 đến thập niên 1970. Ta thấy xuất hiện Quận 10 và Quận 11 ở những khu vực trước kia thuộc các Quận 3, 5 và 6; trong khi đó Quận 2 vẫn chưa thay đổi.


Ta cũng thấy xuất hiện Quận 9 ở khu vực bán đảo Thủ Thiêm. Điều này rất thú vị bởi bán đảo Thủ Thiêm hầu như không bị đô thị hoá vào thời kỳ này và các bản đồ sau đó cũng không xem khu vực này là một quận. Thủ Thiêm sau đó được đưa vào địa giới hành chính của thành phố và thuộc của Quận 2. Quận 9 nằm tiếp nối ngay sau Quận 2.

2.8
© Institut d’Asie Orientale.

Thành phố Hồ Chí Minh [64]. Năm: 2010.

Nhà xuất bản: Nhà Xuất bản Bản đồ

Bản đồ này cho thấy toàn bộ địa bàn của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Ta thấy xuất hiện lại Quận 7 nằm dưới Quận 4, Quận 9 giáp ranh với Quận 2 và Quận Thủ Đức, Quận 12 nằm ở phía Bắc Quận Gò Vấp. Thành phố hiện nay hướng thẳng ra biển (mặc dù đây là khu vực (Cần Giờ) ít đô thị hóa và chủ yếu là đầm lầy).

2.11
© Institut d’Asie Orientale.

Thành phố Hồ Chí Minh. Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đến năm 2025. Bản đồ định hướng phát triển không gian đến năm 2025.

Bản đồ này dự báo sự mở rộng đô thị của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025. Ta thấy sân bay Tân Sơn Nhất và 7 đô thị xung quanh TP.HCM (Đức Hòa, Bến Lức, Thị xã Thủ Dầu Một, Dĩ An, Biên Hòa, Long Thành và Thành Phố Nhơn Trạch). Điều này thể hiện tiềm năng mở rộng đô thị. Khu vực bán đảo Thủ Thiêm cũng như các khu vực phía thượng lưu và hạ lưu dọc theo sông Sài Gòn cũng sẽ được đô thị hóa.

2.12
© PLANIC


header-image02
header-image03
header-image04
logo Agence n2 couleur
footer-image02